Ngành gỗ Việt muốn giữ vững đà tăng trưởng xuất khẩu phải đẩy nhanh truy xuất nguồn gốc, minh bạch chuỗi cung ứng và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe.

Từ lợi thế xuất khẩu đến áp lực chuyển đổi chuỗi cung ứng

Ngành gỗ Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế trên bản đồ thương mại thế giới khi kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản ngoài gỗ đạt mức kỷ lục 18,33 tỷ USD trong năm 2025 (riêng gỗ và sản phẩm gỗ đạt 17,2 tỷ USD, tăng gần 6% so với 2024), đưa Việt Nam vào nhóm 5 quốc gia xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất toàn cầu. Trong khi đó theo số liệu thống kê của Cục Hải quan, tính đến 15/6/2026, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt khoảng 7,78 tỷ USD.

Với gần 15 triệu ha rừng, tỷ lệ che phủ trên 42% và khoảng 5.000 doanh nghiệp chế biến gỗ, ngành lâm nghiệp đang sở hữu nền tảng quan trọng để phát triển bền vững. Sản phẩm gỗ Việt Nam hiện đã có mặt tại gần 170 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm khoảng 7% tổng nhu cầu nhập khẩu đồ gỗ toàn cầu, trong bối cảnh quy mô thị trường thế giới lên tới khoảng 230 tỷ USD. Đây là dư địa rất lớn để ngành tiếp tục mở rộng thị phần và gia tăng giá trị xuất khẩu trong những năm tới.

Tuy nhiên, bối cảnh cạnh tranh đang thay đổi nhanh chóng. Nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu cạnh tranh bằng năng lực sản xuất, chất lượng và giá thành thì nay, các thị trường nhập khẩu ngày càng đặt nặng các tiêu chí về tính hợp pháp của nguồn nguyên liệu, khả năng truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững.

Đáng chú ý, Liên minh châu Âu (EU) đã ban hành Quy định chống mất rừng (EUDR), yêu cầu doanh nghiệp phải chứng minh sản phẩm gỗ không có nguồn gốc từ các khu vực bị phá rừng sau ngày 31/12/2020, đồng thời cung cấp đầy đủ dữ liệu định vị GPS đến từng lô rừng trong chuỗi cung ứng. Đây được xem là một trong những hàng rào kỹ thuật nghiêm ngặt nhất hiện nay, buộc doanh nghiệp phải đầu tư mạnh vào hệ thống quản lý dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và minh bạch hóa toàn bộ quá trình sản xuất nếu muốn duy trì thị phần tại châu Âu.

Thực tế cho thấy, nền tảng phát triển lâm nghiệp bền vững của Việt Nam vẫn còn nhiều khoảng trống. Dù sở hữu gần 15 triệu ha rừng, đến nay mới có khoảng 868.000 ha được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo các hệ thống FSC hoặc VFCS-PEFC.

Trong tổng số 920 chủ rừng là tổ chức, mới chỉ 446 đơn vị hoàn thành phương án quản lý rừng bền vững; riêng nhóm doanh nghiệp và tổ chức kinh tế chỉ đạt 34,5%, thấp nhất trong ba nhóm chủ rừng.

Ở góc độ truy xuất nguồn gốc, tiến độ triển khai cũng còn khá chậm. Việt Nam mới thí điểm cấp mã số rừng trồng sản xuất trên khoảng 25.500 ha tại 5 tỉnh phía Bắc, con số rất nhỏ so với gần 4,9 triệu ha rừng trồng trên cả nước.

Trong khi đó, EUDR yêu cầu truy xuất đến từng lô rừng bằng dữ liệu GPS. Tuy nhiên, nhiều chủ rừng quy mô nhỏ vẫn thiếu thiết bị, hạn chế về kỹ năng số, còn cơ sở dữ liệu lâm nghiệp vẫn phân tán ở nhiều cơ quan, chưa được kết nối đồng bộ và chưa đáp ứng yêu cầu tra cứu theo thời gian thực. Đây đang là một trong những “điểm nghẽn” lớn nhất đối với quá trình xây dựng chuỗi cung ứng gỗ minh bạch và hợp pháp.

Theo ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA), ngành gỗ đang bước vào giai đoạn mà các tiêu chí cạnh tranh không còn chỉ xoay quanh chất lượng, giá thành hay năng lực sản xuất.

Thay vào đó, các thị trường nhập khẩu ngày càng coi trọng tính hợp pháp của nguồn gỗ, khả năng truy xuất nguồn gốc, chứng chỉ quản lý rừng bền vững cũng như việc thực hiện đầy đủ các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Theo ông Mẫn, phát triển bền vững không còn là một lựa chọn mà đã trở thành điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp ASEAN tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Chỉ những doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về minh bạch nguồn gốc và phát triển bền vững mới có thể duy trì lợi thế cạnh tranh và mở rộng thị trường trong giai đoạn tới.

Số hóa truy xuất nguồn gốc – chìa khóa nâng sức cạnh tranh

Theo TS. Tô Xuân Phúc, chuyên gia cao cấp của Forest Trends, Hoa Kỳ hiện vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành gỗ Việt Nam khi chiếm hơn 53% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong 5 tháng đầu năm 2026. Các thị trường chủ lực tiếp theo gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh châu Âu (EU) và Hàn Quốc.

Với mức độ phụ thuộc lớn vào các thị trường này, chỉ cần một thay đổi nhỏ trong quy định hoặc tiêu chuẩn nhập khẩu cũng có thể tác động trực tiếp đến hàng tỷ USD kim ngạch xuất khẩu của ngành.

Theo TS. Tô Xuân Phúc, việc chứng minh tính hợp pháp và nguồn gốc nguyên liệu hiện không còn là yêu cầu riêng của từng thị trường mà đang trở thành tiêu chuẩn chung của thương mại quốc tế. Đây là điều kiện để doanh nghiệp duy trì khả năng tiếp cận thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia bền vững vào chuỗi cung ứng gỗ toàn cầu.

Ở góc độ quản lý, ông Nguyễn Văn Diện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhận định, năng lực cạnh tranh của ngành gỗ hiện không còn được quyết định chủ yếu bởi quy mô sản xuất hay kim ngạch xuất khẩu mà phụ thuộc ngày càng lớn vào khả năng bảo đảm tính minh bạch của toàn bộ chuỗi cung ứng, từ nguồn nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng.

Theo ông Diện, trước việc nhiều thị trường lớn, đặc biệt là EU, triển khai EUDR, các quốc gia ASEAN cần tăng cường hợp tác phát triển rừng bền vững gắn với chứng chỉ rừng; bảo đảm tính hợp pháp của nguồn nguyên liệu thông qua cơ chế chia sẻ dữ liệu; xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc số hóa; đồng thời chủ động đáp ứng các tiêu chuẩn mới về phát thải carbon, kinh tế xanh và phát triển bền vững.

Việt Nam hiện cũng đang đẩy nhanh quá trình xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc số hóa xuyên suốt chuỗi cung ứng, từ khai thác rừng, vận chuyển, chế biến đến sản phẩm cuối cùng. Đây được xem là giải pháp then chốt nhằm gia tăng giá trị, nâng cao tính minh bạch và củng cố năng lực cạnh tranh của ngành gỗ trên thị trường quốc tế.

Theo kế hoạch, đến năm 2030, ngành lâm nghiệp đặt mục tiêu có 1 triệu ha rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững; 100% diện tích rừng thuộc các chủ rừng là tổ chức được quản lý theo tiêu chuẩn bền vững.

Song song với đó, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm sẽ hoàn thiện Hệ thống thông tin truy xuất nguồn gốc gỗ (TTIS), tích hợp đồng bộ mã số rừng trồng, bảng kê lâm sản điện tử, cơ sở dữ liệu doanh nghiệp và giấy phép FLEGT, tạo nền tảng cho quản lý minh bạch, truy xuất chính xác và kết nối dữ liệu theo thời gian thực.

Nguồn: thoibaonganhang.vn

0901 455 726
NHẮN TIN