Thị trường nội địa 100 triệu dân đang mở ra không gian tăng trưởng mới cho ngành gỗ. Khi lời giải từ các chuyên gia đã có, bài toán chinh phục “sân nhà” sẽ phụ thuộc vào năng lực thực thi của các doanh nghiệp ngành.

Trước sự biến động của thị trường xuất khẩu thời gian qua, thị trường nội địa giờ đây thay vì chỉ là “đầu ra phụ” hay “phao cứu sinh” sẽ cần được định vị trở thành một trong những trụ cột chiến lược của ngành gỗ.

Đây là nhận định của ông Ngô Sỹ Hoài, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest) tại hội thảo “Định vị thị trường nội địa: Động lực tăng trưởng của ngành gỗ Việt trong tương lai” do Viforest, Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM (HAWA), Forest Trends và Mạng lưới EUDR Lâm nghiệp vừa tổ chức.

Phó Chủ tịch Viforest Ngô Sỹ Hoài. Ảnh: Minh Khôi

Cùng quan điểm, Chủ tịch HAWA Phùng Quốc Mẫn nhìn nhận, ngành gỗ Việt Nam nhiều năm qua chủ yếu tập trung vào xuất khẩu với kim ngạch khoảng 17 tỷ USD mỗi năm. Vì vậy, hầu hết chính sách, nguồn lực đầu tư và sự quan tâm của doanh nghiệp đều hướng tới phát triển xuất khẩu, ngược lại thị trường nội địa chưa được quan tâm tương xứng.

Trong khi đó, hai thị trường này lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Lấy ví dụ về cuộc điều tra theo Điều 301 của Chính phủ Mỹ giai đoạn 2020 – 2021, ông Mẫn cho rằng, một trong những nguyên nhân được nhắc đến là việc Việt Nam nhập khẩu gỗ nhiệt đới có tính rủi ro để phục vụ thị trường nội địa.

Điều này đã ảnh hưởng đến uy tín của toàn ngành gỗ, bao gồm cả gỗ xuất khẩu (dù không sử dụng nguồn nguyên liệu rủi ro).

Dưới góc nhìn của chuyên gia, câu chuyện phát triển ngành gỗ giờ đây sẽ không chỉ cần tập trung vào xuất khẩu, mà nó phải bao trùm toàn ngành, ở đó các chính sách, nguồn lực đầu tư và sự quan tâm của doanh nghiệp sẽ phải hướng về cả hai phía: xuất khẩu và nội địa.

Quy mô thị trường có thể đạt gần 8 tỷ USD

Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, giai đoạn 2024 – 2025, mức chi tiêu bình quân cho sản phẩm gỗ của Việt Nam là khoảng 50 USD/người/năm, tương đương quy mô thị trường nội địa khoảng 5 tỷ USD.

Với tốc độ tăng dân số khoảng 1% mỗi năm, ông Ngô Sỹ Hoài cho rằng, quá trình đô thị hóa và kỳ vọng tăng trưởng kinh tế cao có thế thúc đẩy nhu cầu sản phẩm gỗ trong nước tăng 7 – 9%/năm. Mức này cao hơn so với bình quân của thế giới (khoảng 6%/năm).

Theo kịch bản trên, đến năm 2030, quy mô thị trường nội địa cho sản phẩm gỗ có thể đạt từ 7 – 7,7 tỷ USD.


Nói rõ hơn về phân khúc tăng trưởng, Phó Chủ tịch Viforest cho hay, không gian mở rộng không chỉ ở nhóm nội thất gia đình mà còn sang nhiều lĩnh vực khác như xây dựng với các kết cấu gỗ quy mô lớn (mass timber), nội thất văn phòng, khách sạn và công trình công cộng.

Ngoài ra, dư địa còn ở các sản phẩm như giấy và bao bì, năng lượng sinh khối (biomass) và các vật liệu sinh học phục vụ kinh tế tuần hoàn.

Trong khi đó, các động lực chính của thị trường sẽ đến từ nhu cầu phát triển nhà ở (đặc biệt là nhà ở xã hội); đầu tư công vào trường học, bệnh viện và các công trình công cộng; du lịch, dịch vụ; thương mại điện tử; cùng quá trình chuyển dịch năng lượng theo hướng sử dụng nhiên liệu sinh khối.

“Nội địa” không đồng nghĩa với “dễ dàng”

Tuy nhiên, ông Ngô Sỹ Hoài cũng chỉ ra, phát triển thị trường nội địa sẽ không dễ dàng khi ngành vẫn còn tồn tại nhiều điểm hạn chế.

Trước hết, doanh nghiệp sản xuất vẫn còn phân mảnh, phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và hộ sản xuất. Hệ thống tiêu chuẩn chưa thống nhất, thiếu dữ liệu thị trường và tính minh bạch về nguồn gốc gỗ, keo, sơn, mức phát thải, độ bền hay chất lượng sản phẩm.

Mặt khác, dịch vụ hậu mãi, bảo hành và xây dựng thương hiệu còn yếu, khiến người tiêu dùng Việt chưa sẵn sàng trả giá cao hơn cho các sản phẩm hợp pháp, an toàn và bền vững.

Dưới góc nhìn của HAWA, đại diện hội ông Phùng Quốc Mẫn cho rằng, các doanh nghiệp còn e ngại thị trường nội địa do sản phẩm chủ yếu được sản xuất theo đơn đặt hàng riêng, khó tiêu chuẩn hóa và sản xuất quy mô lớn.

Hệ thống phân phối lại phức tạp, tốc độ thu hồi vốn chậm và thị trường chưa có các tiêu chuẩn chất lượng thống nhất, khiến người tiêu dùng chủ yếu lựa chọn theo giá thay vì chất lượng.

Trong khi đó, Tổng giám đốc CTCP Tập đoàn Gỗ Minh Long Nguyễn Minh Cương lại đánh giá, thị trường nội địa vẫn chưa được khai thác đúng với tiềm năng, dù nhiều năm qua ngành gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích cao.

Vấn đề ở đây không chỉ nằm ở quy mô thị trường, mà do ngành còn phân mảnh, thiếu tính liên kết giữa các doanh nghiệp, nhà thiết kế và các chủ đầu tư trong khi năng lực về thiết kế, xây dựng thương hiệu và hệ thống phân phối của doanh nghiệp còn hạn chế.

Do đó, ông Cương cho rằng, doanh nghiệp sẽ cần chuyển từ cạnh tranh bằng gia công sang phát triển thiết kế, thương hiệu và bản sắc sản phẩm.

Sẽ cần làm gì để đi đường dài?

Từ kinh nghiệm thực tế của Gỗ Minh Long, Tổng giám đốc doanh nghiệp này kiến nghị, Việt Nam cần xây dựng hệ sinh thái nội thất quốc gia với mạng lưới showroom, logistics chuyên biệt và tăng cường liên kết giữa nhà thiết kế với doanh nghiệp sản xuất.

Đồng thời, cần ban hành bộ tiêu chuẩn quốc gia cho vật liệu nội thất và ưu tiên sử dụng sản phẩm thiết kế, sản xuất trong nước trong các dự án đầu tư công, qua đó tạo động lực phát triển bền vững cho ngành gỗ.

Cùng quan điểm về tính cấp bách trong thay đổi tư duy, Phó Chủ tịch Viforest cho rằng, để phát triển thị trường trong nước, doanh nghiệp sẽ cần chuyển từ tư duy “bán gỗ theo khối lượng” sang nâng cao giá trị của từng mét khối gỗ thông qua phân loại nguyên liệu theo mục đích sử dụng.

Các hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật cũng cần được hoàn thiện, song song với đó là tăng cường truy xuất nguồn gốc và công khai thông tin sản phẩm để xây dựng niềm tin vững chắc cho người tiêu dùng nội địa.

Đáng chú ý, các chương trình mua sắm công xanh (GPP – Green Public Procurement) cần được xây dựng với các tiêu chí về nguồn gốc hợp pháp, an toàn hóa chất, có độ bền cao và có khả năng sửa chữa, thu hồi sản phẩm.

Là doanh nghiệp lâu năm trong ngành gỗ với thị trường nội địa chiếm tới 65% tổng doanh thu, Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc CTCP Gỗ An Cường Lê Đức Nghĩa đề xuất, Việt Nam cần sớm xây dựng bộ tiêu chuẩn và hệ thống ghi nhãn sản phẩm gỗ; tăng cường truy xuất nguồn gốc và khuyến khích sử dụng gỗ rừng trồng, gỗ công nghiệp hợp pháp.

Bên cạnh đó, xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê chính thức về thị trường; phát triển công nghiệp phụ trợ để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa vật liệu và phụ kiện ngành gỗ.

Cho đến nay, Gỗ An Cường đang thu về khoảng 5.000 tỷ đồng doanh thu mỗi năm, với lực lượng lao động đạt 3.000 người. Trong những năm tiếp theo, An Cường sẽ tập trung cân bằng cả hai thị trường nội địa và xuất khẩu.

Theo ông Nghĩa, thành công của An Cường hiện tại được xây dựng từ thị trường trong nước trước khi mở rộng ra xuất khẩu. Do đó, doanh nghiệp đã tách biệt hai hệ thống kinh doanh để phát triển chuyên biệt cho từng thị trường.

An Cường cũng tập trung đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về quản trị, môi trường, phát triển bền vững và ESG, đầu tư mạnh vào hệ thống quản trị hiện đại. Nhờ vậy, doanh nghiệp này đã huy động khoảng 120 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài từ VinaCapital và các nhà đầu tư Nhật Bản.

Từ câu chuyện thành công của các doanh nghiệp, Phó Chủ tịch Viforest Ngô Sỹ Hoài khẳng định, nội địa sẽ là không gian để tái cấu trúc nền kinh tế gỗ theo hướng hợp pháp, bền vững và có giá trị gia tăng cao…

“Và khi các dự án nhà ở xã hội, trường học, bệnh viện và công trình công cộng ưu tiên sử dụng sản phẩm gỗ đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn và chất lượng, doanh nghiệp sẽ có động lực đầu tư sản xuất quy mô lớn, giảm chi phí, nâng cao chất lượng và hình thành thị trường chính thức,” ông Ngô Sỹ Hoài nhận định.

Nguồn: mekongasean.vn

NHẮN TIN